Nguyên văn Tạo Thư (“Sefer Yetzirah")


Tiểu dẫn: Bài dịch này tôi và Thanatos CK đã dùng bản dịch tiếng Anh của Kaplan, kèm cả lời bàn của cá nhân tôi để giải thích các ý nghĩa của từng câu. Chú giải của tôi có thể không hoàn toàn giống với các bản lưu hành hiện tại. Phía trên mỗi đoạn là phần tiếng Anh, phần này chỉ tham khảo, chứ không phải dịch nguyên từ bản tiếng Anh này. Chú ý là chữ Hebrew phức tạp trong cách hiểu, nên mọi bản dịch chỉ nên tham khảo chứ không nên làm căn cứ để hiểu. Phần chú giải mới chính là ý nghĩa thật của tác phẩm, trong các sách của Do Thái rất đề cao Gematria, vì vậy, phần chú giải nào liên quan đến các con số và sự phân tích số mà đọc giả thấy khó hiểu thì vui lòng xem bài viết Gematria này của tôi. Phần tô xám là phần tôi chưa hiệu đính, dự định sẽ làm từng phần đến cuối năm nay thì xong. 

Chân thành cảm ơn cộng tác viên Thanatos CK đã góp công sức trong việc dịch và hiệu chỉnh bản tiếng việt của Tạo Thư này. Thatatos CK đề nghị giữ kín tên thật.

Nguyên văn Tạo Thư (“Sefer Yetzirah")
do Tác Giả và Thanatos CK đồng dịch.



Chương I

1:1 With 32 wonderous paths of Wisdom engrave Yah, the Lord of Hosts, [God of Israel, the Living God, King of the Universe, Almighty God, merciful and gracious, High and Exalted, dwelling in eternity, whose name is Holy, and create His universe] with three books, with text (Sepher), with number (Sephar), and with communication (Sippur).

1:1 Với 32 con đường vận hành của trí tuệ được khai tạo trong YAH, Chúa Binh Lực, Chúa của Isarel, Chúa Hằng Hữu Kiến Tạo, Vua Vũ Trụ, Chúa Toàn Năng, Đấng đầy lòng xót thương và nhân từ, thế tôn của cõi đời vĩnh cửu, còn gọi là Holy (Thánh), đã tạo ra vũ trụ của mình với 3 cuốn sách, với Văn Thư (gọi là Sepher), Số Thư (gọi là Sephar) và Truyền Thư (gọi là Sippur).

Chú giải: 
Đoạn này giới thiệu về 32 con đường của trí tuệ thông qua 3 công cụ: Sepher, Sephar và Sippur. 32 con đường vận hành trí tuệ được dịch từ chữ LB hay Lamed-Beth, chữ đầu tiên và cuối cùng của 5 cuốn sách Ngũ Thư (Pentateuque gồm Sáng Thế Ký, Xuất Ai Cập Ký, Số Ký...). Chú ý về mặt Gematria trong đó chữ Con đường ("NaTYV" hay NTYV hay nun teth yod beth) có tổng là 461 tức là 21x22, cũng tức là số lượng khả năng đi từ một chữ Hebrew đến các chữ Hebrew còn lại. 
YAH: là tên gọi của Ain Sof (vô cùng tận) là ánh sáng của YOD. YHVH TSEBAOTH: Chúa các đạo binh trên trần gian (tôi dịch là Chúa Binh Lực). ELOHI ISRAEL: chúa của Isarael (tôi dịch Chúa của Isarael). ELOHIM H'AYIM: chúa kiến tạo thế giới (tôi dịch là Chúa Hằng Hữu Kiến Tạo). OUMELEK'H OULAM: vua của Vũ Trụ (tôi dịch là Vua Vũ Trụ). EL SHADDAI: thầy của toàn bộ sức mạnh thiên nhiên (tôi dịch là Chúa Toàn Năng). Đây là các danh xưng của chúa trời. Những danh xưng này có nhiều cách dịch khác nhau.

1:2 Ten Sefirot of Nothingness plus twenty two [foundations] letters: Three Mothers, Seven Doubles, and Twelve Elementals.

1:2 Mười Cõi Hư Vô (gọi là Sefirot), cùng với 22 chữ cái, là nền tảng của tất cả mọi thứ: ba Mẫu Tự, bảy Đối Tự và mười hai Đơn Tự.

Chú giải: 
Đoạn này giới thiệu về 10 cõi hư vô và 22 chữ Hebrew. Chữ Cõi Hư Vô tôi dịch từ chữ "SPIRUT BLIMH" hay "Sephiroth Belimah", đáng lẽ được dịch là Hóa Thân Thiên Chúa, nhưng tôi dịch giống với bản dịch của Mathers vì xét thấy cách dịch Hóa Thân không được sử dụng nhiều ở các bản dịch Anh Ngữ, có thể gây hiểu lầm sau này. Nhưng đọc giả cần hiểu mười cõi hư vô này chính là hóa thân của một thiên chúa duy nhất, là mười biểu hiện của một duy nhất. Đoạn này còn giới thiệu cấu trúc của 22 chữ Hebrew: gồm 3 Mẫu Tự tức là chữ mẹ (tiếng Anh dùng chữ Mother Letters) tức là 3 nguyên tố Lửa Nước Khí tạo thành vũ trụ lúc sơ khai, trước khi hình thành Đất; 7 chữ Đối Tự tức là 7 chữ Kép, tuy một chữ nhưng có 2 dạng âm, ám chỉ số 7 huyền nhiệm như 7 ngày trong tuần, 7 vị thánh, ... và tính đối lập trong vũ trụ: sáng tối, nam nữ, ...; 12 Đơn Tự ám chỉ 12 cấu thành của đất, tương ứng như 12 tháng của năm, 12 tông đồ, 12 cung hoàng đạo ...

1:3   Ten Sefirot of Nothingness: The number of the ten fingers, five opposite five, with a single covenant precisely in the middle, like the circumcision of the tongue and the circumcision of the membrum.

1:3 Mười Cõi Hư Vô (gọi là Sefirot): số của 10 ngón tay, 5 ngón đối diện 5 ngón, với duy nhất một giao ước chính xác ở giữa, như phép thề của lưỡi và phép cắt bì của da.

Chú giải: 
Đoạn này giới thiệu ý nghĩa chân lý của 10 cõi hư vô. Mười Cõi Hư Vô vừa là số mười riêng lẻ, vừa là một cặp của số 5; vừa là một giao ước duy nhất. Tức là đấng duy nhất, có thể coi là mười biểu hiện, vừa có thể goi là một cặp đôi của 5 biểu hiện, vừa có thể coi là đấng duy nhất. Chú ý về Gematria, chữ YOD (có gốc là chữ Yad-od Dalet có nghĩa là bàn tay) có tổng là 10 trong phép Tetragam và cặp đôi He-He cũng có giá trị là 5x2 = 10. Đoạn này ở cuối hơi khó hiểu trong nhiều bản dịch. Ví dụ như bản dịch tiếng Anh của Caplan là "như cắt lưỡi và cắt chi" hoặc bản dịch của Morgane là "như lời nói và cắt da". Ở đây tôi đề xuất dịch là như phép thề của lưỡi và phép cắt bì của da. Tôi cho rằng đoạn này liên quan đến 2 phép quan trọng trong tôn giáo: phép thề nguyền và phép hiến tế.

1:4   Ten Sefirot of Nothingness: Ten and not nine; ten and not eleven. Understand with Wisdom, and be wise with Understanding. Examine with them and probe them, make a thing stand on its essence, and make the Creator sit on his base.

1:4 Mười Cõi Hư Vô: 10 và không phải 9, 10 và không phải 11. Thông Thái và Khôn ngoan, và từ đó trở nên Trí Tuệ. Kiểm tra và truy vấn nó, sẽ thấy mọi thứ đúng với bản chất của nó, và đấng kiến tạo sẽ thành nền tảng.

Chú giải: 
Đoạn này giải thích cách thấu hiểu của mười cõi hư vô. Mười cõi hư vô là đúng đắn và kỳ diệu, không phải thừa thành 11 mà cũng không thể thiếu thành 9. Đọc và suy ngẫm về nguyên lý đó sẽ thấy được bản chất của nó và thấy được chân lý của nó. Đoạn này có nhiều cách dịch như chủ yếu là hai cách dịch chính: một là đưa chữ "đấng kiến tạo" ra trước thành "Ngôn từ sẽ thay dần bằng đấng sáng tạo, và đấng sáng tạo thay dần nền tảng đó" hoặc đưa chữ "đấng sáng tạo" ra sau thành "làm điều giống với đấng sáng tạo và đấng sáng tạo sẽ ngồi vào nền tảng của mình". Cả hai cách dịch đều có ý nghĩa tương tự là nếu chiêm nghiệm thấy suy nghĩ đó ngày càng đúng, thì chân lý đó sẽ hiện hữu dần.

1:5   Ten Sefirot of Nothingness: Their measure is ten which have no end. A depth of beginning, a depth of end; a depth of good, a depth of evil; a depth of above, a depth below; a depth east, a depth west; a depth north, a depth south. The singular Master, God faithful King, dominates them all from His holy dwelling until eternity of eternities.

1:5 Mười Cõi Hư Vô: Thước đo mười này là vô biên. Vô tận bắt đầu và vô tận kết thúc, vô tận cái thiện và vô tận cái ác, vô tận trên cao và vô tận phía dưới, vô tận phía đông và vô tận phía tây, vô tận phía bắc và vô tận phía nam, chỉ có duy nhất một Chúa và Vua, mãi mãi ngự trị trên ngai vàng của ngài, mãi mãi cai trị tất cả.

Chú giải:
Đoạn này giới thiệu về 6 chiều của mười cõi hư vô. Đây là đoạn khá khó hiểu và có nhiều lý luận. Một vài lý luận đã được tôi trình bày ở bài Celtic Cross Spread và bài Cube of Space. Đây là đoạn có nhiều nhà huyền học lý giải và rất được quan tâm. Các giải thích khá khác biệt nhất là đoạn "vô tận bắt đầu ... vô tận phía nam". Một trong cách giải thích được chấp nhận rộng rãi là cách giải thích của Paul Foster Case về cube of space. Đoạn này tôi cho là sự giải thích của các thành phần hoặc cấu trúc của Sephirot.


1:6   Ten Sefirot of Nothingness: Their vision is like the "appearance of lightening", their limit has no end. His Word in them is "running and returning". They rush to his saying like a whirlwind, and before His throne they prostrate themselves.

1:6 Mười Cõi Hư Vô: Hình dạng như sấm sét, không có giới hạn nào. Lời của Thiên Chúa trong chúng là hãy “ra đi và trở lại”, chúng tuân theo mệnh lệnh của Ngài. Chúng vội vàng như những cơn lốc, và trở lại phủ phục trước vương miện của Ngài.

Chú giải:
Đoạn này giới thiệu về cách vận hành của mười cõi hư vô. Chúng là những viên chức của chúa. Đoạn này có nhiều giải nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, tôi hướng đến lời giải nghĩa rằng đây là đoạn giải thích về cách di chuyển trên Tree Of Life giữa các nút Seph: chúng di chuyển như hình dạng sấm sét (tức là hình zic-zac), và di chuyển vô cùng.   Chúng di chuyển liên tục và quay trở về. Điều này giải thích cách di chuyển trên cấu trúc Tree Of Life. như sau: Từ Seph 1 đến Seph 10 được di chuyển theo hình zic zac, từ 1 đến 10 rồi trở lại 1. Chú ý là Seph thứ nhất còn được gọi là Vương Miện. Cách nói "ra đi và trở lại" có thể liên tưởng đến hình ảnh con rắn tự cắn đuôi  trong huyền học. Westcott có vẻ ủng hộ giả thiết zic zac này, từ do thái của "hình đạng sấm sét" là BRQ

1:7   Ten Sefirot of Nothingness: Their end is embedded in their beginning, and their beginning in their end, like a flame in a burning coal. For the Master is singular, He has no second. And before One, what do you count?

1:7 Mười Cõi Hư Vô: Kết thúc của chúng được gắn liền với sự bắt đầu, và sự bắt đầu cũng là sự kết thúc của chúng, giống như một ngọn lửa than đang cháy. Vì vị Chúa duy nhất, không có người thứ hai. Và trước 1, bạn đếm cái gì?

Chú giải:
Hai câu đầu khá dễ hiểu: kết thúc là bắt đầu và bắt đầu là kết thúc. Điều này trong triết học cũng không có gì lạ, nhưng so sánh với hình ảnh ngọn lửa than đang cháy thì không dễ hiểu chút nào. Câu này có thể được hiểu là sự sáng tạo đến từ lửa và kết thúc ở lửa. Chú ý là trong khái niệm do thái, con người được tạo ra đầu tiên từ lửa và thế giới cũng được tạo ra từ lửa và ánh sáng. Những câu sau có nhiều cách hiểu khác nhau. Vì chúa là duy nhất của chính mình là cách hiểu của Westcott, có vẻ Kaplan cố giải thích dễ hiểu đoạn này nên dùng cách dịch là không có người thứ hai. Điều này không hoàn toàn đúng. Câu này cần hiểu là chúa là đầu tiên, và cũng là duy nhất. Chúa sáng tạo thế giới, nên không thể truy nguyên mãi được. Trước chúa, là không có gì cả, cho nên mới có câu hỏi: trước một, bạn đếm cái gì ? Một vừa là số một vừa ám chỉ đấng toàn năng (The One là đấng toàn năng). Kaplan đã khéo léo sử dụng cách chơi chữ của tiếng Anh để diễn đạt một khái niệm do thái khó dịch, điều này theo tôi là thú vị. Dù bản của Westcott được đánh giá cao về dịch sát với huyền học, nhưng khó đảm bảo được sự tế nhị trong câu chữ như Kaplan.

1:8   Ten Sefirot of Nothingness: Bridle your mouth from speaking and your heart from thinking. And if your heart runs, return to the place, as it is written, "The Chayot running and returning". Regarding this covenant was made.

1:8 Mười Cõi Hư Vô: Kìm chế lời nói của bạn và suy nghĩ của bạn. Và nếu trái tim đập, ra đi, trở lại với nơi này, như nó đã được viết: “Chayot ra đi và trở lại”. Giao ước này đã được thực hiện.

Chú giải: 
Đoạn này là đoạn thứ hai có sự xuất hiện của giao ước. Giống như phần giải thích trước, Do Thái có 2 biểu trưng giao ước quang trọng: một là phép cắt bì (thể hiện đức tin thiên chúa) và hai là thề nguyền. Xem lại ở phần 1:3. Ở đây, người ta nhăc nhở về 2 giao ước: bằng miệng (nên hiểu là thề nguyền), và bằng suy nghĩ (nên hiểu là đức tin). Virya giải thích đoạn này bằng cách dịch chữ Chayot thành "sinh mệnh". Ông giải thích câu này như sự phục sinh sau ngày phán xét: chết đi và sống trở lại. Nếu trái tim không thay đổi, tức là giữ đức tin không đổi, thì giao ước được thực hiện, tức là chúa sẽ thực hiện giao ước, đưa người đó lên thiên đàng. Một cách giải thích khác thông qua hình ảnh ra đi và trở lại giống như hình ảnh Ourdoboros rắn cắn đuôi để giải thích ý nghĩa giả kim thuật ám chỉ cơ thể chết đi và sống lại để trở nên bất tử trong quá trình chuyển hóa. Câu "Chayot ra đi và trở lại" trở thành một thần chú để thực hiện giao ước bất tử trong lần chuyển hóa cuối cùng. Câu này được Kaplan tham chiếu đến Kinh Thánh Ezekiel 1:14 "The creatures sped back and forth like flashes of lightning.". Chỗ này nguyên gốc là từ RTzUAV ShUB có nghĩa "currendo et redeundo," nhưng các nhà phân tích lại thường dẫn đến Kinh Thánh Ezekiel tham chiếu từ từ H ChIVT có nghĩa là "the living creatures".

1:9   Ten Sefirot of Nothingness: One is the Breath of the Living God, blessed and benedicted be the Name of the Life of worlds. Voice, Breath and Speech. This is the Holy Breath (Ruach HaKodesh).

1:9 Mười Cõi Hư Vô:  Một là Hơi Thở của Chúa Hằng sống, cầu nguyện và tạ ơn trở thành Danh Xưng của Sự Sống. Âm Thanh, Hơi thở và Lời Nói. Đó là thần khí của thánh.

Chú giải:

Đoạn này tương đối khó hiểu. Câu đầu, thường được hiểu: đầu tiên là hơi thở của cháu hằng sống. Westcott dịch là "The Spirit of the Gods of the Living" - Tinh thần chủa chúa hằng sống, dịch bởi từ RUCh ALHIM ChIIIM có nghĩa "The spirit of the living God.". Câu thứ hai, có nhiều cách dịch nhưng không khác mấy về ý nghĩa. AL ChI H OULMIM có nghĩa là "the Living God of Ages", có nghĩa là chúa hằng sống. Westcott chú ý rằng chỗ này từ "chúa" ở ngôi số ít, duy nhất một. Còn Kaplan dịch thành Danh Xưng của Sự Sống. Câu này nên được hiểu là cầu nguyện và tạ ơn nhân danh xưng của chúa. Xuất phát từ 3 từ : QUL, RUCh, DBR, đây là một thành ngữ tôn quý  tiếng Do Thái ám chỉ khởi nguồn của tiên tri của The Daughter of the Voice ( từ gốc là BATh QUL). Kaplan dịch là Voice, Breath and Speech còn Westcott dịch là The Voice, the Spirit, and the Word, thực ra không khác nhau. Tôi thích cách dịch của Kaplan vì cách dịch này ám chỉ đến đoạn đầu tiên 1:1 về 3 cuốn sách: Văn Thư, Số Thư, Truyền Thư tương ứng với 3 đối tượng Âm Thanh, Hơi Thở, Lời Nói. Từ "Holy Breath" rất khó dịch nên tôi dùng từ Thần Khí của Thánh để cho giống với cách dịch kinh thánh Việt Nam. Căn bản là khái niệm "Breath", có nghĩa là "hơi thở" mang nhiều ý nghĩa ẩn trong văn hóa tây phương, rất khó chuyển đổi sang khái niệm Việt Nam. Cả đoạn này nên hiểu ý chính là hơi thở của chúa là khởi nguồn của tiên tri, và nguồn tiên tri đó thông qua 3 đối tượng. Trong đó đặc biệt chú ý đối tượng hơi thở, tương ứng với Tạo Thư (tức là Số Thư). Một số lý luận cho rằng Một tức là Kether, cõi đầu tiên trong mười cõi, nên đoạn này cũng giải thích ý nghĩa trong Kether .

1:10   Two: Breath from Breath. With it engrave and carve twenty-two foundation letters - three, Mothers, seven Doubles, and twelve Elementals - and one Breath is from them.

1:10 Hai: Hơi thở từ Hơi thở. Với sự chứng giám của nó và tạo ra 22 chữ cái nền tảng gồm ba Mẫu Tự, bảy Đối Tự và mười hai Đơn Tự – và một Hơi thở từ chúng.

Chú giải: 

1:11   Three: Water and Breath. With it engrave and carve chaos and void, mire and clay. Engrave them like a garden plot, carve them like a wall, cover them like a ceiling.

1:11 Ba: Nước từ Hơi thở. Với sự chứng giám và tạo ra từ sự hỗn loạn và trống rỗng, đầm lầy và đất sét. Chứng giám chúng như một khu vườn, tạo ra chúng như một bức tường, bao bọc chúng như trần nhà.

1:12   Four: Fire from water. With it engrave and carve the Throne of Glory, Seraphim, Ophanim, holy Chayot, and Ministering Angels. From the three establish His dwelling, as it is written, "He makes His angels of breaths, His ministers from flaming fire" (P salms 104:4).

1:12 Bốn: Lửa từ nước. Với sự chứng giám và tạo ra Throne of Glory, Seraphim, Ophanim, Thánh Chayot, và các thiên sứ. Từ ba thiết lập sự trú ngụ của Ngài, như đã được viết, “Ngài tạo ra hơi thở cho Thiên sứ của ngài, những người trợ thủ từ ngọn lửa rực cháy” (P salms 104:4).

1:13   Five: With three of the simple letters seal "above". Choose three and place them in His great Name: YHV. With them seal the six extremities. Face upward and seal it with YHV.

Năm: Với 3 chữ cái đơn giản niêm phong “ở trên”. Chọn ba và đặt chúng trong cái tên vĩ đại của Ngài: YHV. Với họ niêm phong sáu chi. Hướng mặt lên trên và niêm phong chúng với YHV.

    Six: Seal "below". Face downward and seal it with YHV.
    Seven: Seal "east". Face straight ahead and seal it with HYV.
    Eight: Seal "west". Face backward and seal it with HVY
    Nine: Seal "south". Face to the right and seal it withn VYH.
    Ten: Seal "north". Face to the left and seal it with VHY.
Sáu: Niêm phong “ở dưới”. Hướng mặt xuống dưới và niêm phong với YHV.
Bảy: Niêm phong “hướng đông”. Hướng mặt thẳng phía trước và niêm phong với HYV.
Tám: Niêm phong “hướng tây”. Hướng mặt về phía sau và niêm phong với HVY.
Chín: Niêm phong “hướng nam”. Hướng mặt sang bên phải và niêm phong với VYH.
Mười: Niêm phong “hướng bắc”. Hướng mặt sang bên trái và niêm phong với VHY.

1:14   These are the Ten Sefirot of Nothingness. One is the Breath of the Living God. Breath [from Breath], Fire [from water, and the extremities], up, down, east, west, north and south.

1:14 Đây là 10 con số hư vô của Sefirot: Một là Hơi thở của Thánh Hằng sống. Hơi thở [từ Hơi thở], Lửa [từ nước, và các chi], lên, xuống, đông, tây, bắc và nam.



Chương 2

2:1   Twenty-two foundation letters: three Mothers, seven Doubles, and twelve Elementals. The three Mothers, AMSh, their foundation is the pan of merit, the pan of liability, and the tongue of decree deciding between them.

2:1 22 chữ cái nền tảng: Ba Bà Mẹ, Bảy Đôi, và 12 Cơ bản. Ba Bà Mẹ, AMSh, cơ sở của chúng là cán cân của giá trị, cán cân của trách nhiệm, và miệng lưỡi của bản án quyết định cuối cùng giữa chúng.

2:2   Twenty-two letters: Engrave them, carve them, weigh them, permute them, and transform them, and with them depict the soul of all that was formed and all that will be formed in the future.

2:2 Hai mươi hai chữ cái: chứng giám chúng, tạo ra chúng, cân nhắc, chuyển hóa và biến đổi chúng, và với chúng miêu tả linh hồn của tất cả đã được định hình và tất cả sẽ được hình thành trong tương lai.

2:3   Twenty-two foundation letters: They are engraved with voice, carved with breath, and placed in the mouth in five places: AChHO, BVMP, GYKO, DTLNTh, ZSShRTz.

2:3 Hai mươi hai chữ cái nền tảng: Chúng được chứng giám bởi giọng nói, tạo ra bởi hơi thở và đặt trên miệng trong năm vị trí: AchHO, BVMP, GYKO, DTLNTh, ZSShRTz.

2:4   Twenty-two foundation letters: They are set in a circle as 231 Gates. And this is the sign: There is no good higher than delight (ONG), and there is no evil lower than plague (NGO).

2:4 Hai mươi hai chữ cái nền tảng: Chúng được đặt trong vòng tròn như 231 Cổng. Và đó là dấu hiệu: không có gì tốt hơn sự vui sướng (ONG), và không có gì tàn ác hơn bệnh dịch (NGO)

2:5   How? Weigh them and transpose them, Aleph with each one, and each one with Aleph; Bet with each one, and each one with Bet. They repeat in a cycle. Therefore, everything formed and everything spoken emanates in one name.
2:5 Như thế nào? Cân nhắc và chuyển đổi chúng. Aleph với mỗi thứ, và mỗi thứ với Aleph; Bet với mỗi thứ, và mỗi thứ với Beth. Chúng được lặp lại trong một chu kỳ. Bởi vì, mọi thứ đã hình thành và mọi thứ đã nói bắt nguồn từ một cái tên.

2:6   From substance out of chaos and make nonexistence into existence. Carve great pillars out of air that cannot be grasped. This is the sign: One forsees, transposes, and makes all creation and all words with one Name. And a sign of this: Twenty-two objects in a single body.
2:6 Từ vật chất của sự hỗn loạn và làm cho từ không tồn tại trở thành tồn tại. Tạo ra những trụ cột tuyệt vời của không khí mà không thể nắm giữ được. Và đó là dấu hiệu: một dự đoán trước, hoán vị, và làm ra mọi sự sáng tạo và tất cả ngôn từ chỉ với một cái tên. Và một dấu hiệu của điều này: 22 vật thể trong một cơ thể duy nhất.

Chương 3

3:1   Three Mothers, AMSh: Their foundation is the pan of liability, the pan of merit, and the tongue of decree deciding between them.
3:1 Ba Bà Mẹ, AMSh: cơ sở của chúng là cán cân của giá trị, cán cân của trách nhiệm, và miệng lưỡi của bản án quyết định cuối cùng giữa chúng.

3:2   Three Mothers, AMSh: A great, mystical, concealed secret, sealed with six rings,. And from it emanate fire and water, separating themselves as male and female. Three Mothers, AMSh, are their foundation, and from them are born the Fathers, from which ev erything was created.
3:2 Ba Bà Mẹ, AMSh: Một sự tuyệt vời, huyền bí, bí mật được che giấu, được niêm phong bởi 6 vòng. Và từ nó sinh ra lửa và nửa, tự tách ra như đàn ông và phụ nữ. Ba Bà Mẹ, AMSh, là nền tảng của chúng, và từ chúng sinh ra các Thượng Đế, từ đó mọi thứ được tạo ra.

3:3   Three Mothers, AMSh, in the Universe are air, water, and fire. Heaven was created from fire, earth was created from water, and the air decides decides between the fire and the water.
3:3 Ba Bà Mẹ, AMSh, trong Vũ trụ là không khí, nước và lửa. Thiên đường được tạo ra từ lửa, Trái Đất được tạo ra từ nước, và không khí lựa chọn giữa lửa và nước.

3:4   Three Mothers AMSh, in the year are fire, water, and breath. The hot is created from fire, the cold is created from water, and the temperate from breath decides between them.
3:4 Ba Bà Mẹ AMSh, trong năm là lửa, nước và hơi thở. Nóng được tạo ra từ lửa, lanh được tạo ra từ nước, và nhiệt độ từ hơi thở lựa chọn giữa lửa và nước.

3:5   Three Mothers, AMSh, in the Soul are fire, water, and breath. The head is created from fire, the belly is created from water, and the chest, created from breath, decides between them.
3:5 Ba Bà Mẹ, AMSh, trong linh hồn là lửa, nước và hơi thở. Phần đầu được tạo ra từ lửa, phần bụng được tạo ra nước, và phần ngực, được tạo ra từ hơi thở, lựa chọn giữa chúng.

3:6   Three Mothers, AMSh: Engrave them, carve them, permute them, and with them seal three Mothers in the Universe, three Mothers in the Year, and three Mothers in the Soul, male and female.
3:6 Ba Bà Mẹ, AMSh: Chứng giám chúng, tạo ra chúng, hoán đổi chúng, và với chúng chứng nhận ba Bà Mẹ trong Vũ trụ, ba Bà Mẹ trọng Năm, và ba Bà Mẹ trong linh hồn, đàn ông và phụ nữ.

3:7   Make aleph king over breath, bind a crown to it, and combine one with another. And with them seal air in the Universe, the temperate in the year, and the chest in the Soul, the male with AMSh, and the female with AShM.
3:7 Tạo ra vua Aleph qua hơi thở, ràng buộc ngai vàng vào đó, và kết hợp với nhau. Và với họ niêm phong không khí trong Vũ trụ, nhiệt độ trong năm, và ngực trong Linh hồn, đàn ông với AMSh, và phụ nữ với AshM.

3:8   Make Mem king over water, bind a crown to it, and combine one with another. And with them seal earth in the Universe, the cold in the Year, and the belly in the Soul, the male with MASh, and the female with ShMA.
3:8 Tạo ra vua Mem qua nước, ràng buộc ngai vàng vào đó, và kết hợp với nhau. Và với họ niêm phong trái đất trong Vũ trụ, cái lạnh trong Năm, và phần bụng trong Linh hồn, đàn ông với MASh, và phụ với ShMA.

Chương 4

4:1   Seven Doubles, BGD KPRT: Their foundation is life, peace, wisdom, wealth, grace, seed, dominance. Each has two sounds: B-Bh, G-Gh, D-Dh, K-Kh, P-Ph, R-Rh, T-Th. A structure of soft and hard, a structure of strong and weak, double because they are transposes. The transpose of life is death, the transpose of peace is evil, the transpose of wisdom is folly, the transpose of wealth is poverty, the transpose of grace is is ugliness, the transpose of seed is desolation, the transpose of dominance is subjugation.
4:1 Bảy Đôi, BGD KPRT: Nền tảng của chúng là cuộc sống, hòa bình, sự khôn ngoan, sự giàu có, cái đẹp, hạt giống, sự thống trị. Mỗi thứ có hai âm: B-Bh, G-Gh, D-Dh, K-Kh, Ph P-, R-Rh, T-Th. Một cấu trúc của cơ cấu mềm và cứng, mạnh mẽ và yếu, bởi vì chúng là các hoán vị. Hoán vị của cuộc sống là cái chết, của hòa bình là cái ác, của sự khôn ngoan là ngu ngốc, của giàu có là nghèo khổ, của cái đẹp là xấu xí, của hạt giống là sự tàn phá, của sự thống trị là chinh phục.

4:2   Seven Doubles, BGD KPRT: Seven and not six, seven and not eight. Examine with them and probe from them, make each thing stand on its own essence, and make the Creator sit on His base.
4:2 Bảy Đôi, BGD KPRT: Bảy và không phải sáu, bảy và không phải tám. Kiểm tra và thăm dò những con số đó, làm cho một điều đúng với bản chất của nó, và làm cho Đấng Tạo Hóa ngồi trên cơ sở của mình. 

4:3   Seven Doubles, BGD KPRT, parallel the seven extremeties. These are the sixextremeties: up, down, east, west, north, south. And the Holy Palace precisely in the middle upholds them all.
4:3 Bảy Đôi, BGD KPRT, song song với bảy đoạn cuối. Đây là sáu đoạn cuối: lên, xuống, đông, tây, bắc, nam. Và tòa lâu đài Thánh nằm ở chính giữa duy trì tất cả.

4:4   Seven Doubles, BGD KPRT: Engrave them, carve them, combine them, as planets in the Universe, days in the Year, and gates in the Soul. From them engrave seven firmaments, seven earths, seven weeks. Seven is therefore beloved under all heavens.
4:4 Bảy Đôi, BGD KPRT: Chứng giám chúng, tạo ra chúng, kết hợp chúng, như những hành tinh trong Vũ trị, như các ngày trong năm, và như những cánh cửa của linh hồn. Từ chúng chứng giám bảy bầu trời, bảy trái đất, bảy tuần. Số bảy vì thế mà được yêu mến bởi tất cả các tầng trời.

4:5   How? Make Bet king over life, bind a crown to it, and with it depict Saturn in the universe, Sunday in the Year, and the right eye in the Soul.
4:5: Làm thế nào? Tạo ra vua Bet vượt qua cuộc sống, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng Sao Thổ trong Vũ trụ, Chủ nhật trong Năm, và con mắt phải trong Linh hồn.

4:6   Make Gimel king, bind a crown to it, and with it depict Jupiter in the Universe, Monday in the Year, and the left eye in the Soul.
4:6 Tạo ra vua Gimel, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho sao Mộc trong Vũ trụ, Thứ Hai trong Năm, và con mắt trái của Linh hồn.

4:7   Make Dalet king, bind a crown to it, and with it depict Mars in the Universe, Tuesday in the Year, and the right ear in the Soul.
4:7 Tạo ra vua Dalet, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho sao Hỏa trong Vũ trụ, Thứ Ba trong Năm, và tai phải của Linh hồn.

4:8   Make Kaf king, bind a crown to it, and with it depict the Sun in the Universe, Wedneday in the Year, and the left ear in the Soul.
4:8 Tạo ra vua Kaf, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho Mặt trời trong Vũ trụ, Thứ Tư trong Năm, và tai trái của Linh hồn.

4:9   Make Peh king, bind a crown to it, and with it depict Venus in the Universe, Thursday in the Year, and the right nostril in the Soul.
4:9 Tạo ra vua Peh, ràng buộc cho nó một vương miện, và nó tượng trưng cho Sao Kim trong Vũ trụ, Thứ Năm trong Năm, và lỗ mũi bên phải trong Linh hồn.

4:10   Make Resh king, bind a crown to it, and with it depict Mercury in the Universe, Friday in the Year, and the left nostril in the Soul.
4:10 Tạo ra vua Resh, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho Sao Thủy trong Vũ trụ, Thứ Sáu trong Năm, và lỗi mũi trái của Linh hồn.

4:11   Make Tav king, bind a crown to it, and with it depict the Moon in the Universe, the Sabbath in the Year, and the mouth in the Soul.
4:11 Tạo ra vua Tav, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho Mặt trăng trong Vũ trụ, ngày nghỉ trong Năm, và cái miệng của Linh hồn.

4:12   The Seven Doubles, how does one permute them? Two stones build two houses, three buid six houses, four build 24 houses, five build 120 houses, six build 720 houses, and seven build 5040 houses. From there on go out and calculate that which the mouth cannot speak and the ear cannot hear.
4:12 Bảy Đôi, làm thế nào để chuyển đổi chúng? Hai viên đá xây được hai ngôi nhà, ba viên xây được sáu ngôi nhà, bốn viên xây được 24 ngôi nhà, năm viên xây được 120 ngôi nhà, sau viên xây được 720 ngôi nhà, và bảy viên xây được 5040 ngôi nhà. Từ đó đi ra và tính toán thứ mà miệng không thể nói và tai không thể nghe.

These are the seven planets in the Universe: The Sun, Venus, Mercury, the Moon, Saturn, Juiter, Mars. These are the seven days in the Year: The seven days of creation. And the seven gates in the Soul are the two eyes, the two ears, the two nostrils, and the mouth. And with them were engraves the seven firmaments, the seven earths, the seven hours. Seven is therefore beloved for every desire under heaven.
Đó là bảy hành tinh trong Vũ trụ: Mặt trời, Sao Kim, Sao Thủy, Mặt Trăng, Sao Thổ, Sao Mộc, Sao Hỏa. Đó là bảy ngày trong Năm: Bảy ngày của sự sáng tạo. Và bảy cánh cổng đi vào linh hồn đó là đôi mắt, hai cái tai, hai lỗ mũi, và miệng. Và chúng được chứng giám bởi bảy bầu trời, bảy Trái đất, bảy giờ. Số bảy vì thế mà được yêu mến cho mọi mong muốn dưới bầu trời.

Chương 5

5:1   Twelve Elementals: HV ZCh TY LN SO TzQ. Their foundation is sight, hearing, smell, speech, taste, coition, action, motion, anger, laughter, thought, and sleep. Their measure is the twelve diagonal boundaries: the north-east boundary, the south-east boundary, the upper-east boundary, the lower-east boundary, the upper-north boundary, the lower-north boundary, the south-west boundary, the north-west boundary, the upper-west boundary, the lower-west boundary, the upper-south boundary, the lower-south boun dary. They continually spread for ever and ever. They are the Arms of the Universe.
5:! Mười hai cơ bản: HV ZCh TY LN SO TzQ. Cơ sở của chúng là tầm nhìn, sự lắng nghe, mùi vị, lời nói, hành động, sự tức giận, nụ cười, suy nghĩ, và giấc ngủ. Phương pháp của chúng là 

5:2   Twelve Elementals: HV ZCh TY LN SO TzQ. Engrave them, carve them weigh them, permute them, transpose them, and with them depict the twelve constellations in the Universe: Aries, Taurus, Gemini. Cancer, Leo, Virgo, Libra, Scorpio, Sagittarius, Capricorn , Aquarius, and Pisces; the twelve months in the Year: Nissan, Iyar, Sivan, Tamuz, Av, Elul, Tishrei, Mar-cheshvan, Kislev, Tevet, Shevat, Adar; and the twelve directors of the Soul: two hands, two feet, two kidneys, the spleen, the liver, the gall bladder, the hemsess, the kiva, and the korkeban.
5:2 Mười hai căn bản: HV ZCh TY LN SO TzQ. Chứng giám chúng, tạo ra chúng, cân nhắc chúng, chuyển hóa, hoán vị chúng, và chúng tượng trưng cho 12 chòm sao trong Vũ trụ: Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên Bình, Thiên Yết, Nhân Mã, Ma Kết, Thủy Bình và Song Ngư; 12 tháng trong Năm: Nissan, Iyar, Sivan, Tamuz, Av, Elul, Tishrei, Mar-cheshvan, Kislev, Tevet, Shevat, Adar, và 12 mắt xích của Linh hồn: 2 bàn tay, 2 bàn chân, 2 quả thận, lá lách, gan, túi mật, dạ dày, thực quản và cổ họng.

    How does one permute them? Make Heh king, bind a crown in it, and with it depict Aries in the Universe, Nissan in the Year, and the right hand in the Soul.
    Make Vav king, bind a crown to it, and with it depict Taurus, Iyar in the Year, and the left hand in the Soul.
    Make Zayin king, bind a crown to it, and with it depict Gemini in the Universe, Sivan in the Year, and the right foot in the Soul.
    Make Chet king, bind a crown to it, and with it depict Cancer in the Universe, Tamuz in the Year, and the left foot in the Soul.
    Make Tet king, bind a crown to it, and with it depict Leo in the Universe, Av in the Year, and the right kidney in the Soul.
    Make Yud king, bind a crown to it, and with it depict Virgo in the Universe, Elul in the Year, and the left kidney in the Soul.
Make Nun king, bind a crown to it, and with it depict Scorpio in the Universe, Mar-cheshvan in the Year, and the spleen in the Soul.
    Make Samekh king, bind a crown to it, and with it depict Sagittarius in the Universe, Kislev in the Year, and the gall bladder in the Soul.
    Make Eyin king, bind a crown to it, and with it depict Capricorn in the Universe, Tevet in the Year, and the hemsess in the Soul.
    Make Tzadi king, bind a crown to it, and with it depict Aquarius in the Universe, Shevat in the Year, and the kivah in the Soul.
    Make Kuf king, bind a crown to it, and with it depict Pisces in the Universe, Adar in the Year, and the korkeban in the Soul.

Làm thế nào để chuyển hóa chúng? Tạo ra vua Heh, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Bạch Dương trong Vũ trụ, Nissan trong Năm, và bàn tay phải của Linh hồn.
Tạo ra vua Vav, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Kim Ngưu trong Vũ trụ, Iyar trong Năm và bàn tay trái của linh hồn.
Tạo ra vua Zayin, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Song Tử trong Vũ trụ, Sivan trong Năm, và bàn chân phải của linh hồn.
Tạo ra vua Chet, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Cự Giải trong Vũ trụ, Tamuz trong Năm, và bàn chân trái của linh hồn.
Tạo ra vua Tet, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Sư Tử trong Vũ trụ, Av trong Năm, và quả thận phải của linh hồn.
Tạo ra vua Yud, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Xử Nữ trong Vũ trụ, Elul trong Năm, và quả thận trái của linh hồn.
Tạo ra vua Lamed, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Thiên Bình trong Vũ trụ, Tishrei trong Năm, và lá gan của linh hồn.
Tạo ra vua Nun, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Thiên Yết, Mar-cheshvan trong Năm, và lá lách của linh hồn.
Tạo ra vua Samekh, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Nhân Mã trong Vũ trụ, Kislev trong Năm, và túi mật của linh hồn.
Tạo ra vua Eyin, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Ma Kết trong Vũ trụ, Tevet trong Năm, và dạ dày của linh hồn.
Tạo ra vua Tzadi, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Thủy Bình trong Vũ trụ, Shevat trong Năm, và thực quản của linh hồn.
Tạo ra vua Kufm, ràng buộc một vương miện cho nó, và nó tượng trưng cho cung Song Ngư trong Vũ trụ, Adar trong Năm, và cổ họng của linh hồn.

5:3   Three Mothers which are three Fathers, from which emanate fire, breath and water. Three Mothers, seven Doubles, and twelve Elementals.
5:3 Ba Bà Mẹ cũng là ba Ông Bố, từ đó bắt nguồn ra lửa, nước và hơi thở. Ba Bà Mẹ, Bảy Đôi, và Mười Hai Căn bản.

5:4   These are the twenty-two letters which are founded by the Blessed Holy One [Yah, YHVH of Hosts, God of Israel, the Living God, high and exalted] dwelling in eternity, whose name is Holy, exalted and Holy is He.
5:4 Đó là hai mươi hai chữ cái mà được tạo ra bởi Chân phước Thánh (Yah, YHVH of Hosts, Chúa của Israel, Chúa hằng sống, thế tôn và cao quý) trong cõi đời đời vĩnh cửu, có tên là Thánh, cao quý và Thánh chính là Người.

Chương 6

6:1   Three are the fathers and their offspring, seven are the planets and their hosts, and twelve are the diagonal boundaries. And the proof of this, true witnesses, are the Univers, the Year, and the Soul. He decreed Twelve, (Ten), Seven and Three and He appointed them in the Teli, the Cycle, and the Heart. The three are fire, water, and breath: fire above, water below, and breath, the decree that decides between them. A sign of this is that fire upholds water. Mem hums, Shin hisses, and Alef is the decree that decides between them.

6:1 Ba là những người cha và con của họ, bảy hành tinh và các vật chủ của chúng, và mười hai là những ranh giới chéo. Và bằng chứng của điều này, chứng nhân đích thực, đó là Vũ trụ, năm, và linh hồn. Ngài lệnh cho Mười Hai, (Mười), Bảy và Ba và Ngài phân bổ chúng trong Teli, chu kỳ, và trái tim. Ba là lửa, nước, và hơi thở: lửa trên, nước dưới, và hơi thở, quy định quyết định giữa chúng. Một dấu hiệu của việc này là đề cao lửa hơn nước. Mem ấp úng, Shin rít lên, và Alef là quy định quyết định giữa chúng.

6:2   The Teli in the Universe is like a king on his throne, the cycle in the Year is like a king in the province, the Heart in the Soul is like a king in battle. "Also every desire, one opposite the other was made by God" (ecclesiastes 7:14). Good opposite evil, good from good, evil from evil. Good makes evil recognizable, and evil makes good recognizable. Good is kept for the good, and evil is kept for the wicked .

6:2 The Teli trong Vũ trụ giống như vị vua trên ngai vàng của ông ấy, vòng tròn trong Năm giống như vị vua của lãnh thổ, Trái tim trong Linh hồn giống như vị vua trong cuộc chiến đấu. “Ngoài những điều mong muốn, còn có những điều đối lập được thực hiện bởi Chúa” (Truyền đạo 7:14). Cái thiện đối lập với cái ác, cái thiện từ cái thiện, cái ác từ cái ác. Cái thiện làm cho cái ác có thể được nhận ra, và cái ác làm cho cái thiện có thể được nhận ra. Cái tốt được giữ cho điều thiện, và cái ác được giữ cho kẻ ác.

6:3   Three: Each one stands alone. Seven are divided, three opposite three, with a decree deciding between them. Twelve stand in war: three who love, three who hate, three who give life, and three who kill. The three that love are the heart, the ears and the mouth; the three that hate are the liver. the gall bladder, and the tongue. And God, the faithful King dominates them all. One over three, three over seven, and seven over twelve, and all of them are bound, one to another.

6:3 Ba: Mỗi thứ đứng độc lập một mình. Bảy được chia ra, ba đối diện ba, với một quy định quyết địn giữa chúng. Mười hai đứng trong cuộc chiến: ba người yêu, ba người ghét, ba người cho cuộc sống và ba người giết ta. Ba người yêu đó là trái tim, đôi tai và cái miệng; ba kẻ ghét đó là lá gan, túi mật, và cái lưỡi. Và Chúa, vị Vua trung thành chi phối tất cả. Một hơn ba, ba hơn bảy, và bảy hơn mười hai, và tất cả chúng đều bị ràng buộc bởi một thứ khác. 

6:4   And when Abraham our father gazed, he looked, saw, delved, understood, engraved, carved, permuted and depicted, and he was successful. And the Master of all, Blessed be He, revealed Himself to him, and took him in His bosom, [kissed him on the head, and called him, "my Beloved"]. He made a covenant with him between the ten toes of his feet-this is the covenant of circumcision-and between the ten fingers of his hand-this is the covenant of the tongue. He bound the twenty-two letters to his tongue and revealed their foundation. He drew them in water, burned them in fire, agitated them with breath. He ignited them with seven planets, and directed them with twelve constellations.

6:4 Và khi ông tổ Abraham của chúng ta nhận thấy, nhìn, quan sát, nghiên cứu, hiểu, chứng nhận, tạo ra, hoán đổi và mô tả điều đó, và ông đã thành công. Và Chủ nhân của tất cả, đã cầu phúc là ông, bày tỏ với chính bản thân mình, và đưa ông vào tâm hồn của mình [hôn lên trán ông, và gọi ông là “người tôi yêu”]. Ông đã thực hiện một giao ước với Ngài giữa mười ngón chân của bàn chân ông – đây là giao ước của circumcision – và giữa mười ngón tay của bàn tay ông – đây là giao ước của cái lưỡi. ông ràng buộc mười hai chữ cái vào lưỡi của mình và tiết lộ nền tảng của chúng. Ông nhấn chìm chúng trong nước, đốt trong lửa, kích động chúng với hơi thở. Ông làm nóng chảy chúng với bảy hành tinh, và điều khiển chúng với mười hai chòm sao.


Aryeh Kaplan Sefer Yetzirah 1991

http://www.morgane.org/sefer.htm
http://hermetic.com/texts/yetzirah.html

DMCA.com Protection Status
Bài viết "Nguyên văn Tạo Thư (“Sefer Yetzirah")" có bản quyền, được bảo vệ bởi DMCA. Bất kỳ hình thức sao chép lại ở các trang khác mà không tuân thủ các điều khoảng sử dụng của chúng tôi sẽ được thông báo đến DMCA để thực hiện gỡ bỏ khỏi hệ thống tìm kiếm của Google và Bing. Truy cập DMCA.COM để biết thêm về các biện pháp trừng phạt do vi phạm bản quyền nội dung số.
Home